10/01/2018

  

Lượt xem: 1574

Với việc áp dụng thành công công nghệ che vị đắng trong việc bào chế sản phẩm cốm pha hỗn dịch EFODYL 125 và 250mg, các chuyên gia nghiên cứu của Merap đã gián tiếp “phủ định” câu tục ngữ từ ngàn đời nay, không chỉ thuốc đắng mới dã tật.

EFODYL 125 và 250mg bắt đầu xuất hiện trên thị trường từ tháng 7.2017.

Đắng là vị đặc trưng của hầu hết các loại kháng sinh. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho rất nhiều người bệnh khi buộc phải sử dụng kháng sinh dạng uống cảm luôn cảm thấy khó chịu. Với các bệnh nhi, vị đắng còn gây ra rào cản không nhỏ trong việc tiếp cận và sử dụng sản phẩm kháng sinh.

Dược chất Cefuroxime axetil dùng để điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp, nhiễm khuẩn da và mô mềm là một loại kháng sinh rất đắng.

Xuất phát từ thực tế này, phương án che vị đắng của Cefuroxime axetil bằng việc sử dụng polyme để sản xuất sản phẩm EFODYL đã được Merap lên kế hoạch triển khai thực hiện.

Khoảng năm 2014, Merap triển khai đề tài nghiên cứu che vị đắng để bào chế EFODYL dựa trên công nghệ mà hãng sản xuất polymer công bố. Tuy nhiên, khi áp dụng công nghệ này tại Merap, vị đắng của Cefuroxime axetil vẫn còn khá rõ nét. Bên cạnh đó, tương đương sinh học so với thuốc gốc cũng không đảm bảo.

“Mặc dù ở môi trường có độ pH khoảng 6,8 như ở ruột non, khả năng giải phóng dược chất tương đương với biệt dược gốc. Thế nhưng, ở những môi trường có độ pH thấp hơn như ở dạ dày (có độ pH khoảng 1,2) và dưới dạ dày (có độ pH khoảng 4,5) khả năng giải phóng dược chất lại thấp hơn biệt dược gốc khá nhiều”, TS Đào Danh Sơn, người chủ trì đề tài nghiên cứu che vị đắng trong bào chế EFODYL cho biết.

Thất bại trong lần thử nghiệm đầu tiên không khiến TS Sơn nản chí, anh tâm sự: “Trước khi về làm việc tại Merap, tôi từng có thời gian khá dài làm nghiên cứu sinh và bảo vệ luận án tiến sĩ ở Hàn Quốc. Ngoài kiến thức chuyên môn, tôi còn học được ở người Hàn Quốc đức tính kiên định khi thực hiện mục tiêu”.

“Trong suốt cuộc quá trình học tập và nghiên cứu của mình, tôi đã từng nếm trải nhiều thất bại. Sau những thất bại như thế, nếu không biết vượt qua chính mình, tôi đã chẳng thể có được ngày hôm nay”, TS Sơn cho biết thêm.

Năm 2016, quay trở lại với đề tài nghiên cứu che vị đắng của Cefuroxime axetil để bào chế EFODYL, dù đã rút được một số kinh nghiệm trong lần triển khai trước đây nhưng TS Sơn vẫn tiếp tục vấp phải khó khăn.

“Tôi vẫn bị ám ảnh bởi công nghệ mà hãng sản xuất polymer đã công bố trước đó. Vì thế tôi chỉ tập trung suy nghĩ của mình cho việc đun chảy dược chất và tá dược rồi tạo hạt từ hợp chất trên. Mất một thời gian nữa tôi mới nhận ra, nếu cứ tiếp tục đi theo hướng này, sẽ rất khó để thành công”, TS Sơn tâm sự.

Đúng vào thời điểm TS Sơn cảm thấy lúng túng nhất thì Merap quyết định đầu tư thêm hệ thống trộn hạt cao tốc và sấy tầng sôi hiện đại, trị giá khoảng 20 tỷ đồng.

“Là doanh nhân nhưng đồng thời tôi cũng là một dược sĩ. Theo dõi quá trình triển khai đề tài nghiên cứu của TS Sơn, tôi hiểu những khó khăn mà anh ấy đã trải qua. Trong đó, có một phần nguyên nhân đến từ việc anh ấy chưa có được những trang thiết bị tốt nhất”, ông Tô Hồng Thái, Tổng Giám đốc Merap chia sẻ.

Ông Tô Hồng Thái cho biết thêm: “Ban Giám đốc Merap quyết định đầu tư hệ thống trộn hạt cao tốc và sấy tầng sôi hiện đại với mong muốn hỗ trợ công tác nghiên cứu của TS Sơn nói riêng và hoạt động nghiên cứu của Merap nói chung”.

Là người làm công tác nghiên cứu, khi được trang bị hệ thống thiết bị hiện đại, tất nhiên TS Sơn và đồng nghiệp của anh đều hết sức vui mừng. Tuy nhiên, kèm theo đó cũng là không ít suy tư, anh tâm sự: “Phải thú thực là việc Merap bỏ ra một khoản ngân sách lớn để đầu tư trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác nghiên cứu tạo ra áp lực không nhỏ đối với cá nhân tôi. Nếu không thực hiện thành công đề tài nghiên cứu của mình, có nghĩa là tôi đã góp phần tạo ra một khoản đầu tư lãng phí…”.

Áp lực tạo ra động lực, tiếp nhận hệ thống trộn hạt cao tốc và sấy tầng sôi, gạt sang một bên “lối mòn” do hãng sản xuất polymer đã vạch sẵn, TS Sơn bắt đầu nghĩ đến những hướng đi mới.

Hồi tưởng quãng thời gian hơn 1 năm trước, thời điểm có tính đột phá đối với công trình nghiên cứu của mình, TS Sơn vẫn không giấu nổi cảm xúc vui mừng: “Rất may là trong thời điểm căng thẳng đó, một ý tưởng lóe lên và với sự hỗ trợ của hệ thống trang thiết bị hiện đại, tôi đã nhanh chóng hiện thực hóa được ý tưởng của mình, đó là việc tạo ra công nghệ mà các tiểu phân hoạt chất được bao bọc bởi hệ matrix thân lipid. Công nghệ này có tác dụng giúp các tiểu phân hoạt chất chỉ giải phóng khi gặp môi trường thích hợp”.

“Tôi gọi đây là công nghệ MPM (Micro Particles Matrix). Cũng không lâu sau đó, tôi đã tìm được giải pháp phù hợp để đưa công nghệ MPM từ phòng thí nghiệm ra sản xuất trên quy mô lớn”, TS Sơn hào hứng kể tiếp.

Nhờ công nghệ MPM, sản phẩm EFODYL 125 và 250 của Merap không những đảm bảo được việc che vị đắng, đảm bảo tương đương sinh học mà còn giảm được hơn 1 nửa hàm lượng tá dược so với biệt dược gốc. Với 1,5g khối lượng EFODYL đã chứa được 125mg dược chất.

Thành công trong việc áp dụng công nghệ MPM che vị đắng của Cefuroxime axetil trong bào chế EFODYL không dễ gì có được. Tuy nhiên, chia sẻ về điều này, TS Sơn chỉ nói ngắn gọn: “Đây là thành công mà khi bắt tay thực hiện đề tài nghiên cứu, bản thân tôi cũng chưa thể hình dung ra được”.

Mới chỉ bắt đầu được giới thiệu từ tháng 7.2017 nhưng nhờ những ưu điểm vượt trội so với một số sản phẩm cùng loại như: không giải phóng hoạt chất khi pha trong nước, không sử dụng tá dược điều vị, nên đến nay, sản phẩm EFODYL 125 và 250 của Merap đã nhận được sự phản hồi hết sức tích cực từ thị trường…

“Thuốc đắng dã tật”, câu tục ngữ tồn tại từ ngàn đời nay đang dần tỏ ra lạc hậu dần cùng với những phát minh mới trong lĩnh vực bào chế dược phẩm. Và sự ra đời của công nghệ MPM chính là một ví dụ điển hình.

 

Lê Nguyễn

Merap Communications Expert